Ung thư là gì? Thông tin tổng hợp từ A – Z về bệnh ung thư

Sức khỏe của chúng ta luôn bị các tác nhân gây bệnh tấn công, ung thư chỉ là một trong số những tác nhân tiêu biểu, điển hình và tác nhân này đang “cướp đi” tính mạng của rất nhiều người hiện nay. Để đảm bảo sự an toàn cho sức khỏe cũng như khả năng phòng tránh bệnh ung thư, bạn không thể không nắm bắt được các kiến thức về bệnh ung thư. Dành vài phút cho những thông tin được chia sẻ dưới đây. 

Ung thư là gì?

Ung thư là sự tăng trưởng không kiểm soát của các tế bào bất thường ở bất cứ đâu trong cơ thể. Những tế bào bất thường này được gọi là tế bào ung thư, tế bào ác tính hoặc tế bào khối u lành tính.

ung thu la gi
Tế bào ung thư

Những tế bào ung thư có thể xâm nhập vào các mô bình thường của cơ thể. Bệnh ung thư được gọi tên dựa vào vị trí xuất hiện của các tế bào ung thư (ví dụ: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư đại trực tràng,…). 

Ung thư không ngoại trừ bất kì một ai, ung thư có thể gặp ở tất cả mọi người. Thông thường, các tế bào ung thư có thể tách ra khỏi khối tế bào ban đầu, đi qua các hệ thống máu và bạch huyết, trú ngụ trong các cơ quan khác, nơi chúng có thể lặp lại chu kỳ tăng trưởng không kiểm soát giống như ở vị trí ban đầu mà chúng xuất hiện. Quá trình này của các tế bào ung thư từ khu vực ban đầu, phát triển sang một khu vực khác của cơ thể, quá trình này gọi là di căn. Ví dụ, nếu ung thư vú các tế bào lan đến xương, điều đó có nghĩa là tế bào ung thư đã bị di căn sang xương. Điều này không giống như “ung thư xương”, có nghĩa là ung thư đã bắt đầu trong xương.

Các loại ung thư gặp phổ biến ở nam, nữ và trẻ em như sau: 

  • Đàn ông: ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi và ung thư đại trực tràng
  • Phụ nữ: ung thư vú, ung thư phổi và ung thư đại trực tràng
  • Trẻ em: ung thư bạch cầu, khối u não và ung thư hạch

Những con số về bệnh ung thư

Tỷ lệ mắc ung thư và các loại ung thư xuất hiện do nhiều yếu tố khác nhau như tuổi tác, giới tính, chủng tộc, yếu tố môi trường địa phương,  chế độ ăn uống và di truyền. Do đó, tỷ lệ mắc ung thư và các loại ung thư gặp phải sẽ tùy thuộc vào các yếu tố biến đổi này. Ví dụ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp thông tin chung sau đây về bệnh ung thư trên toàn thế giới:

  • Ung thư là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Nó chiếm tới 8.2 triệu ca tử vong (khoảng 22% tổng số ca tử vong không liên quan đến các bệnh truyền nhiễm; dữ liệu gần đây nhất từ ​​WHO).
  • Ung thư phổi, dạ dày, gan, ruột kết và ung thư vú gây ra nhiều ca tử vong nhất do ung thư mỗi năm.
  • Tử vong do ung thư trên toàn thế giới được dự đoán sẽ tiếp tục gia tăng, ước tính khoảng 13,1 triệu ca tử vong vào năm 2030 (tăng khoảng 70%).

Các khu vực khác nhau trên thế giới có thể có tỷ lệ mắc ung thư chiếm ít hoặc nhiều hơn, Một ví dụ là ung thư dạ dày thường được tìm thấy ở Nhật Bản, trong khi bệnh này lại tìm thấy rất ít ở Hoa Kỳ. 

Nguyên nhân gây bệnh ung thư

nguyen nhan gay ung thu
Chế độ ăn uống là nguyên nhân gây ung thư

Bất cứ điều gì có thể khiến một tế bào cơ thể bình thường phát triển bất thường có khả năng gây ung thư. Có rất nhiều yếu tố khác nhau có thể gây ra sự bất thường cho tế bào ung thư và có liên quan đến sự phát triển ung thư.

Các nguyên nhân gây ung thư vẫn chưa được xác định cụ thể, song vẫn có một số căn bệnh ung thư có các tác nhân từ các yếu tố môi trường hoặc lối sống hoặc có thể phát triển do nhiều yếu tố khác nhau.  Một số có thể bị ảnh hưởng phát triển bởi gen di truyền của một người nào đó trong họ hàng từng mắc ung thư. 

Mặc dù thường rất khó hoặc không thể xác định các yếu tố khởi phát gây ung thư ở một người cụ thể, song các nghiên cứu đã cho các bác sĩ biết được một số nguyên nhân có khả năng gây ra căn bệnh ung thư. Sau đây là danh sách các nguyên nhân chính gây bệnh ung thư được các bác sĩ chia sẻ:

Phơi nhiễm hóa chất hoặc hợp chất độc hại: Benzen, amiăng, niken, cadmium, vinyl clorua, benzidine, N-nitrosamine, thuốc lá hoặc khói thuốc lá (chứa ít nhất 66 hóa chất và chất độc gây ung thư), amiăng và aflatoxin

Bức xạ ion hóa: Uranium, radon , tia cực tím từ ánh sáng mặt trời, bức xạ từ các nguồn phát alpha, beta, gamma và tia X

Tác nhân gây bệnh: virus HPV, virus EBV, virus viêm gan B hoặc C, virus herpes, vi khuẩn HP; các vi khuẩn khác đang được nghiên cứu là tác nhân có thể.

Di truyền học: Một số bệnh ung thư gặp phải có mối liên hệ với gen di truyền, ví dụ như: vú, buồng trứng, đại trực tràng, tuyến tiền liệt, da,… 

Điều quan trọng đã chỉ ra rằng hầu hết mọi người đều có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh ung thư và tiếp xúc với các chất gây ung thư (ví dụ: ánh sáng mặt trời, khói thuốc lá và tia X) trong suốt cuộc đời.

Gần đây, các yếu tố nguy cơ khác đã được thêm vào danh sách các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Cụ thể, thịt đỏ (như thịt bò, thịt cừu và thịt lợn) được cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế xếp vào loại tác nhân có nguy cơ cao gây ung thư; ngoài ra các loại thịt chế biến (muối, hun khói hoặc thịt đã được xử lý) được đưa vào danh sách gây ung thư. Những người ăn nhiều thịt nướng cũng có thể làm tăng nguy cơ do các hợp chất hình thành ở nhiệt độ cao. Các yếu tố được xác định khác có thể làm tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư bao gồm béo phì, lười vận động, mắc các bệnh viêm mãn tính,…. 

Triệu chứng và dấu hiệu của ung thư

Các triệu chứng và dấu hiệu ung thư phụ thuộc vào từng loại ung thư, vị trí của nó hoặc nơi các tế bào ung thư đã lan rộng. Ví dụ, ung thư vú có thể xuất hiện dưới dạng cục u ở vú hoặc xuất hiện ở đầu vú, trong khi ung thư vú di căn có thể có triệu chứng đau (nếu lan sang xương), mệt mỏi hoặc co giật (đối với ung thư não). Một số bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng cho đến khi ung thư phát triển đến giai đoạn nặng.

Dưới đây là một số triệu chứng và dấu hiệu ung thư hay gặp nhất, có thể kể đến như:

  • Thay đổi thói quen đại tiện hoặc tiểu tiện
  • Đau họng mãi không khỏi
  • Chảy máu hoặc chảy mủ bất thường (ví dụ, dịch tiết núm vú hoặc “vết loét” sẽ không lành mà tiết ra chất liệu)
  • Dày hoặc vón cục ở vú, tinh hoàn, hoặc nơi khác
  • Khó tiêu (thường là mãn tính) hoặc khó nuốt
  • Thay đổi rõ ràng về kích thước, màu sắc, hình dạng hoặc độ dày của mụn hoặc nốt ruồi
  • Giảm cân không rõ nguyên nhân hoặc mất cảm giác ngon miệng
  • Mệt mỏi kéo dài, buồn nôn hoặc nôn
  • Sốt cao, kéo dài

Bất cứ ai có những dấu hiệu và triệu chứng này nên đến gặp các bác sĩ càng sớm càng tốt,  những triệu chứng này có thể phản ánh một căn bệnh ung thư đang gặp phải, việc điều trị sớm sẽ tránh được những hậu quả đáng tiếc về sau. 

Các loại ung thư thường gặp

cac loai ung thu
Ung thư dạ dày gặp rất nhiều

Có hơn 200 loại ung thư khác nhau, để dễ dàng hơn cho người bệnh trong việc nhận biết, người ta xếp ung thư vào một số nhóm cụ thể như:

  • Ung thư biểu mô: Ung thư có nguồn gốc từ các tế bào biểu mô . Nhóm này bao gồm nhiều bệnh ung thư phổ biến nhất và bao gồm các bệnh ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, ung thư tuyến tụy, ung thư ruột kết. 
  • Ung thư mô liên kết: Ung thư phát sinh từ mô liên kết như ung thư xương, ung thư sụn, ung thư thần kinh,…, mỗi tế bào phát triển từ các tế bào, bắt nguồn từ các tế bào trung mô bên ngoài tủy xương.
  • Ung thư hạch bạch hầu: Nhóm này phát sinh từ các tế bào tạo máu (tạo máu), tủy và có xu hướng trưởng thành trong các hạch bạch huyết và máu. 
  • Ung thư tế bào: Ung thư bắt nguồn từ đa nang ế bào, hay gặp nhất là ung thư tinh hoàn, ung thư buồng trứng,..
  • Tế bào chưa trưởng thành: Ung thư có nguồn gốc từ các tế bào “tiền thân” chưa trưởng thành hoặc mô phôi.

Cách phát hiện và chuẩn đoán bệnh ung thư

Hầu hết các bệnh ung thư đều được nhận biết thông qua các dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh. Và để có kết quả chính xác và cụ thể nhất, người bệnh sẽ phải thực hiện các xét nghiệm, kiểm tra chuyên sâu  tại các cơ sở y tế. Những người bị nghi mắc ung thư được kiểm tra bằng các xét nghiệm y tế. Chúng thường bao gồm xét nghiệm máu, chụp X-quang, Chụp CT và nội soi.

Kiểm tra mô sinh tiết từ các loại tế bào đang tăng trưởng, những tế bào bất thường. Việc kiểm tra này sẽ đánh giá tiên lượng để tìm được một phương pháp điều trị tốt nhất. 

Phòng tránh bệnh ung thư

Để giúp mọi người bảo vệ và chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất, các giải pháp phòng tránh bệnh ung thư nên được biết đến và thực hiện càng sớm càng tốt. Xung quanh cuộc sống của chúng ta luôn chứa các tác nhân gây bệnh ung thư, trong khi đó chúng ta lại chưa biết cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe, chúng ta hàng ngày vẫn duy trì những hoạt động không tốt cho sức khỏe và tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh tấn công. 

Có thể ngăn ngừa hơn 30% trường hợp tử vong do ung thư bằng cách tránh các yếu tố rủi ro bao gồm: thuốc lá, thừa cân/béo phì, chế độ ăn uống thiếu khoa học, lười hoạt động thể chất, rượu bia, ô nhiễm không khí. Không phải tất cả các nguyên nhân môi trường đều có thể kiểm soát được, chẳng hạn như bức xạ nền và ung thư xuất hiện tự nhiên do rối loạn di truyền.

Chế độ ăn uống 

Chế độ ăn uống có thể quyết định đến khả năng mắc ung thư, điều này đã được kiểm chứng. Chỉ cần bạn duy trì một chế độ ăn uống khoa học và hợp lý, thì các tác nhân gây bệnh sẽ rất khó xâm nhập và tấn công. Các yếu tố chế độ ăn uống chính là lý do làm tăng nguy cơ là béo phì. Chế độ ăn ít trái cây và rau quả, ăn nhiều thịt đỏ có liên quan đến việc xuất hiện của tế bào ung thư. Cà phê có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư gan. Các nghiên cứu đã chỉ ra việc tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ hoặc thịt chế biến sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư ruột kết và ung thư tuyến tụy, có thể là do sự hiện diện của chất gây ung thư trong thịt nấu chín ở nhiệt độ cao. Trong năm 2015, IARC đã báo cáo rằng ăn thịt chế biến (ví dụ, thịt xông khói, giăm bông, xúc xích, xúc xích), và ở một mức độ thấp hơn, thịt đỏ có liên quan đến một số bệnh ung thư. Các khuyến nghị về chế độ ăn uống để phòng ngừa ung thư thường bao gồm nhấn mạnh vào rau , trái cây, ngũ cốc và cá, tránh thịt chế biến và thịt đỏ (thịt bò, thịt lợn, thịt cừu), mỡ động vật , thực phẩm ngâm và carbohydrate tinh chế.

Thuốc 

phong ngua ung thu
Sử dụng vacxin phòng ngừa ung thư

Thuốc có thể được sử dụng để ngăn ngừa ung thư trong một vài trường hợp. NSAID có thể làm giảm nguy cơ ung thư đại trực tràng; tuy nhiên, do tác dụng phụ của thuốc đến  tim mạch và đường tiêu hóa, nên không được khuyến khích sử dụng. Aspirin đã được tìm thấy để giảm khoảng 7% nguy cơ tử vong do ung thư. Các chất ức chế COX-2 có thể làm giảm tốc độ hình thành polyp ở những người mắc bệnh polyp tuyến thượng thận gia đình; tuy nhiên, nó có liên quan đến các tác dụng phụ tương tự như NSAID. Sử dụng tamoxifen hoặc raloxifene hàng ngày giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ có nguy cơ cao. Lợi ích so với tác hại đối với chất ức chế 5-alpha-reductase như finasteride là không rõ ràng. Bổ sung vitamin dường như không có hiệu quả trong việc ngăn ngừa ung thư. Mặc dù nồng độ vitamin D trong máu thấp có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư. Một đánh giá năm 2014 cho thấy các chất bổ sung không có tác dụng đáng kể đối với nguy cơ ung thư. Một đánh giá khác năm 2014 đã kết luận rằng vitamin D3 có thể làm giảm nguy cơ tử vong do ung thư. Bổ sung beta-carotene làm tăng tỷ lệ ung thư phổi ở những người có nguy cơ cao. Bổ sung axit folic không hiệu quả trong việc ngăn ngừa ung thư ruột kết và có thể làm tăng polyp đại tràng.Bổ sung Selen chưa được chứng minh là làm giảm nguy cơ ung thư. 

Tiêm phòng 

Vắc-xin đã được phát triển để ngăn ngừa nhiễm trùng bởi một số vi-rút gây ung thư. Có một số căn bệnh ung thư có thể tiêm phòng để ngăn ngừa sự tấn công của các tác nhân gây bệnh, song khả năng ngăn ngừa không thể là 100%, mà chỉ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh. Hiện nay có một số vắc xin ngăn ngừa ung thư có thể kể đến như: ung thư cổ tử cung, ung thư gan,…

Sàng lọc

Sàng lọc là một trong những cách phòng ngừa ung thư được các bác sĩ khuyên dùng. Để đảm bảo khả năng phòng tránh và điều trị bệnh ung thư một cách tốt nhất, sàng lọc được xem là giải pháp tối ưu. Sàng lọc là giải pháp phòng tránh ung thư có thể áp dụng cho mọi bệnh ung thư. Sàng lọc sẽ bao gồm: kiểm tra sức khỏe định kỳ, kiểm tra thể chất, xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chụp X-quang,…

Các phương pháp điều trị bệnh ung thư

Tùy theo từng căn bệnh ung thư gặp phải mà sẽ lựa chọn phương pháp điều trị riêng, các bác sĩ cũng sẽ dựa trên tình trạng bệnh ung thư của từng người bệnh để chỉ định một phương pháp điều trị phù hợp nhất. Hiện tại có 3 phương pháp điều trị bệnh ung thư phổ biến là hóa trị, xạ trị và phẫu thuật. 

Hóa trị 

Hóa trị là điều trị ung thư bằng cách sử dụng các hoạt chất gây độc tế bào ung thư. Các tác nhân hóa trị liệu hoạt động bằng cách tiêu diệt các tế bào phân chia nhanh chóng, đặc điểm quan trọng của hầu hết các tế bào ung thư. 

Liệu pháp nhắm mục tiêu là một hình thức hóa trị nhắm vào sự khác biệt phân tử cụ thể giữa ung thư và tế bào bình thường. Các liệu pháp nhắm mục tiêu đầu tiên đã chặn phân tử thụ thể estrogen, ức chế sự phát triển của ung thư vú. Một ví dụ phổ biến khác là nhóm thuốc ức chế Bcr-Abl, được sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính (CML). Hiện nay, phương pháp điều trị nhắm mục tiêu tồn tại đối với nhiều người trong những loại ung thư phổ biến nhất, bao gồm cả ung thư bàng quang, ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư thận, bệnh bạch cầu, ung thư gan, ung thư phổi, lymphoma, ung thư tuyến tụy, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư da và ung thư tuyến giáp cũng như các loại ung thư khác. 

Hiệu quả của hóa trị liệu phụ thuộc vào loại ung thư và giai đoạn. Kết hợp với phẫu thuật, hóa trị đã được chứng minh là hữu ích trong điều trị các loại ung thư bao gồm ung thư vú, ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến tụy, sarcoma xương, ung thư tinh hoàn, ung thư buồng trứng và một số bệnh ung thư khác. 

Hóa trị chỉ áp dụng cho một số bệnh ung thư, chẳng hạn như một số bệnh bạch cầu, không hiệu quả ở một số khối u não, như hầu hết các bệnh ung thư da không phải khối u ác tính. Hiệu quả của hóa trị thường bị giới hạn bởi độc tính của nó đối với các mô khác trong cơ thể. Ngay cả khi hóa trị không cung cấp phương pháp chữa trị vĩnh viễn, có thể hữu ích để giảm các triệu chứng như đau hoặc giảm kích thước của khối u để phẫu thuật mang lại hiệu quả cao hơn.

Xạ trị 

dieu tri ung thu
Rất nhiều lựa chọn cho điều trị ung thư

Xạ trị liên quan đến việc sử dụng bức xạ ion hóa trong chữa trị hoặc giảm các triệu chứng. Nó hoạt động bằng cách làm hỏng DNA của mô ung thư, hủy hoại nó. Để mang lại hiệu quả chữa trị ung thư  (như da hoặc các cơ quan, mà bức xạ phải đi qua để điều trị khối u), các chùm bức xạ hình được nhắm từ nhiều góc tiếp xúc để giao nhau với khối u, cung cấp một liều lượng lớn hơn nhiều so với các mô khỏe mạnh xung quanh. Các bức xạ có thể là từ các nguồn bên trong (brachytherou) hoặc các nguồn bên ngoài. Bức xạ thường là tia X năng lượng thấp nhất để điều trị ung thư da, trong khi tia X năng lượng cao hơn được sử dụng cho các bệnh ung thư trong cơ thể. 

Xạ trị thường sẽ được sử dụng cùng với phẫu thuật hoặc sử dụng trước khi phẫu thuật để làm giảm kích thước của khối u. 

Phẫu thuật 

Phẫu thuật là một phương pháp điều trị bệnh ung thư mang lại hiệu quả điều trị cao nhất, song không phải bệnh ung thư nào cũng áp dụng được biện pháp này. Tùy theo mức độ và tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ chỉ định xem có áp dụng được phương pháp này hay không.  Đa phần những trường hợp được chỉ định phẫu thuật, thì tình trạng bệnh đã nặng, nhưng vẫn chưa có dấu hiệu di căn. Để mang lại hiệu quả điều trị tốt nhất, người bệnh sẽ được kết hợp giữa phẫu thuật và hóa trị, xạ trị. 

Ung thư nên ăn gì và kiêng ăn gì?

Ung thư kiêng ăn gì?

Thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp

Từ lâu chúng ta đã biết rằng thực phẩm chế biến sẵn, đóng hộp có quá nhiều đường, natri, chất béo bão hòa và các thành phần hóa học có thể góp phần gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe như bệnh tim, tiểu đường và béo phì,…. Theo một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Pháp và Brazil, mức tăng tiêu thụ thực phẩm chế biến sẽ làm tăng nguy cơ mắc ung thư. Vì vậy, để phòng tránh bệnh ung thư, bạn nên tránh sử dụng các sản phẩm sản xuất hàng loạt và đồ nướng, soda, mì ăn liền và súp, đồ ăn nhẹ mặn và ngọt,…. Các loại thực phẩm ít được chế biến, chẳng hạn như mì ống, rau đóng hộp và bánh mì mới nướng, không làm gia tăng nguy cơ ung thư. Đây là những siêu thực phẩm chống ung thư bạn nên ăn mỗi ngày.

Rượu bia

Dưới đây là một số thống kê nghiêm túc: Chỉ cần một ly đồ uống có cồn mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú lên 5%, nguy cơ ung thư vòm họng tăng 17% và nguy cơ ung thư thực quản tăng 30%. Theo Hiệp hội Ung thư lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), những con số đó tăng lên đáng kể khi bạn uống nhiều hơn, với những người uống nhiều hơn bốn ly mỗi ngày có nguy cơ mắc các bệnh ung thư vòm họng cao gấp năm lần. ASCO cũng lưu ý rằng ước tính 5% ca ung thư mới và 6% ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới có thể liên quan trực tiếp đến việc tiêu thụ rượu. Vì vậy, để đảm bảo sự an toàn cho sức khỏe, bạn nên hạn chế các đồ uống có cồn ở mức tối đa, nếu được hãy loại bỏ càng sớm càng tốt. 

Thịt đỏ

Cho dù bạn nấu nó như thế nào, thì tiêu thụ thịt đỏ sẽ làm tăng nguy cơ ung thư. Ăn thịt đỏ có liên quan đến ung thư tuyến tụy, đại trực tràng và dạ dày và Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, sử dụng thịt đỏ có thể gây ung thư. Hơn nữa, các nhà nghiên cứu từ Đại học Leeds, đã nghiên cứu hơn 32.000 phụ nữ trên 17 tuổi, phát hiện ra rằng những người thường xuyên ăn thịt đỏ có tỷ lệ mắc ung thư đại tràng cao hơn so với những người không sử dụng thịt đỏ trong chế độ ăn uống. Chính vì vậy, để phòng tránh và điều trị ung thư một cách tốt nhất, bạn nên tránh sử dụng thịt đỏ.

Cà phê

ung thu kieng an gi
Đồ ăn chiên rán thực sự không tốt cho bệnh ung thư

Các nhà khoa học thuộc Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết bản thân cà phê không gây ung thư, nhưng họ thêm cảnh báo này: Cà phê (hoặc trà) tiêu thụ ở nhiệt độ rất cao có thể làm tăng nguy cơ ung thư thực quản. Không phải là nhiệt độ cao kích hoạt một số loại hợp chất gây ung thư mà nó liên tục làm căng cổ họng của bạn bằng chất lỏng nóng có thể dẫn đến phát triển khối u. Theo một nghiên cứu khác được công bố trên Annals of Internal Medicine đã xem xét những người uống trà, nếu bạn cũng hút thuốc và uống rượu quá mức, bạn sẽ tăng nguy cơ lên ​​gấp năm lần. Vì vậy, hãy để đồ uống của bạn lựa chọn nguội đi một chút trước khi uống nó và làm mát nó. 

Ung thư nên ăn gì?

Có rất nhiều thực phẩm có tác dụng phòng tránh và hỗ trợ điều trị ung thư rất tốt. Vì vậy, để đảm bảo sự an toàn cho sức khỏe, bạn nên bổ sung trong chế độ ăn uống hàng ngày

Cá giàu chất béo

Cá béo, bao gồm cá hồi, cá thu và cá cơm, rất giàu chất dinh dưỡng thiết yếu, chẳng hạn như vitamin B, kali và axit béo omega-3 . Một nghiên cứu cho thấy những người có chế độ ăn nhiều cá nước ngọt có nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng thấp hơn 53% so với những người ít cá nước ngọt. Cá vẫn luôn là một thực phẩm rất tốt cho sức khỏe. Vì vậy, bạn hoàn toàn có thể sử dụng cá trong các bữa ăn hàng ngày để có được một sức khỏe tốt nhất. 

Các loại đậu

Các loại đậu, chẳng hạn như đậu đen, đậu Hà Lan và đậu lăng, có nhiều chất xơ, có thể giúp giảm nguy cơ phát triển ung thư của một người. Một phân tích tổng hợp của 14 nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa mức tiêu thụ cây họ đậu cao hơn và nguy cơ ung thư đại trực tràng thấp hơn. Một nghiên cứu khác xem xét mối quan hệ giữa lượng chất xơ có trong đậu và nguy cơ ung thư vú. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những người ăn chế độ ăn nhiều chất xơ có khả năng mắc ung thư vú thấp hơn 20% so với những người không đáp ứng lượng chất xơ hàng ngày.

Quả óc chó 

Theo Viện Nghiên cứu Ung thư Hoa Kỳ, tất cả các loại hạt đều có đặc tính ngăn ngừa ung thư, nhưng các nhà khoa học đã nghiên cứu quả óc chó có khả năng phòng ngừa ung thư cao hơn các loại hạt khác. Quả óc chó có chứa một chất gọi là pedunculagin, mà cơ thể chuyển hóa thành urolithin. Urolithin là các hợp chất liên kết với các thụ thể estrogen và có thể đóng vai trò ngăn ngừa ung thư vú. Trong một nghiên cứu trên động vật, những con chuột ăn quả óc chó và dầu óc chó có mức độ ức chế khối u cao hơn những con chuột sử dụng dầu thực vật.

Cà rốt

Cà rốt chứa một số chất dinh dưỡng thiết yếu bao gồm vitamin K, vitamin A và chất chống oxy hóa. Cà rốt cũng chứa một lượng lớn beta-carotene, thành phần tạo nên màu của cà rốt.. Các nghiên cứu gần đây tiết lộ rằng beta-carotene đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hệ thống miễn dịch và có thể ngăn ngừa một số loại ung thư. Một đánh giá của các nhà nghiên cứu cho thấy rằng beta-carotene có liên quan đến việc giảm nguy cơ ung thư vú và tuyến tiền liệt . Một phân tích khác cho thấy tiêu thụ cà rốt cao hơn dẫn đến nguy cơ mắc ung thư dạ dày thấp hơn 26%. Vì vậy bạn không nên bỏ qua loại thực phẩm này trong các bữa ăn hàng ngày. 

Rau cải 

Các loại rau họ cải, như bông cải xanh, súp lơ và cải xoăn, chứa các chất dinh dưỡng có lợi, bao gồm vitamin C, vitamin K và mangan. Các loại rau họ cải cũng chứa sulforaphane, một hợp chất thực vật có đặc tính chống ung thư. Một nghiên cứu cho thấy sulforaphane ức chế đáng kể sự phát triển của tế bào ung thư và kích thích sự chết của tế bào ung thư. Một nghiên cứu khác cho thấy sulforaphane kết hợp với genistein, một hợp chất trong đậu nành, có thể ức chế đáng kể sự phát triển và kích thước khối u ung thư vú. Sulforaphane cũng ức chế histone deacetylase, một loại enzyme có liên kết với sự phát triển ung thư. Một đánh giá khuyến nghị 3 đến 5 khẩu phần rau họ cải mỗi tuần để có tác dụng phòng ngừa ung thư tốt nhất.

Ngoài những thực phẩm kể trên thì bạn có thể sử dụng các loại trái cây có nhiều vitamin hoặc sử dụng các loại nước uống chứa chất chống oxi hóa. 

Trên đây là toàn bộ những thông tin cơ bản về bệnh ung thư, những thông tin này sẽ giúp bạn chăm sóc và bảo vệ sức khỏe tốt hơn. Có hơn 200 loại ung thư khác nhau, bạn không thể biết được bản thân có thực sự khỏe mạnh để chống lại các tác nhân gây bệnh hay không. Vì vậy, để đảm bảo có một cuộc sống hạnh phúc, bạn nên dành thời gian tìm hiểu các thông tin về sức khỏe, ung thư là một thông tin bạn nên biết.